Trọng thầy mới được làm thầy ''


Ngày 22 tháng 11 năm 2017


Tin từ các báo điện tử

Cập nhật lúc : 00:00 27/09/2012  

Xây dựng xã hội học tập suốt đời ở Nhật Bản


Trong những năm gần đây, ở Nhật Bản, sự chuyển biến mạnh mẽ về cơ cấu xã hội, sự phát triển vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin cùng với sự thay đổi về quan niệm sống, các giá trị quan và nhân sinh quan đòi hỏi mỗi con người cần phải không ngừng học tập để trau dồi, nâng cao tri thức đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của xã hội hiện đại. Bên cạnh đó, vấn đề xóa bỏ căn bệnh xã hội bằng cấp, làm tăng thêm ý nghĩa cuộc sống và phong phú thêm đời sống tinh thần của người dân Nhật Bản trong bối cảnh xã hội già hóa dân số đã đặt vấn đề cần phải xây dựng một “xã hội học tập suốt đời” - có khả năng cung cấp cho mọi người, mọi lứa tuổi cơ hội được chủ động tiếp thu trình độ học vấn mình mong muốn và thành quả học tập đó được công nhận và sử dụng một cách thích đáng.


Phạm vi của hoạt động "học tập suốt đời" rất rộng lớn, nó không chỉ là những hoạt động học tập có tổ chức, mang ý đồ nhất định trong giáo dục nhà trường và xã hội mà bao gồm cả các hoạt động văn hóa, thể thao theo sở thích, giải trí và các hoạt động tình nguyện... Địa điểm của những hoạt động học tập kiểu này cũng rất phong phú và đa dạng, đó là các trường tiểu học, trung học, đại học, các trung tâm công cộng địa phương, thư viện, viện bảo tàng, nhà văn hoá-thể thao và các công ty, xí nghiệp... Có thể nói, việc đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời có một ý nghĩa vô cùng to lớn, đó là: không ngừng nâng cao các kỹ năng và kinh nghiệm cho bản thân mỗi người học, góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ cho việc phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

Vào đầu những năm 1980, khái niệm “xã hội học tập suốt đời” đã được nhắc đến ở Nhật Bản lần đầu tiên. Trải qua hơn 20 năm cải cách và phát triển giáo dục, đến nay công cuộc xây dựng “xã hội học tập suốt đời” ở Nhật Bản đã thu được một số thành quả như: xoá đi căn bệnh xã hội bằng cấp, làm thay đổi cách nhìn về "năng lực", không dựa vào học lịch, bằng cấp một cách hình thức, máy móc, mà kết quả học tập ở mỗi giai đoạn cuộc đời được đánh giá một cách công bằng, thích đáng hơn. Mặt khác, nằm trong chiến lược xây dựng “xã hội học tập suốt đời”, hệ thống giáo dục bên ngoài trường học chính quy phát triển đã đáp ứng tối đa nhu cầu học tập đa dạng của xã hội, làm phong phú đời sống tinh thần và tăng thêm ý nghĩa cho cuộc sống của nhân dân Nhật Bản. Không chỉ dừng lại ở đó, “giáo dục suốt đời” còn góp phần quan trọng cùng với hệ thống giáo dục chính quy trong nhà trường tiếp tục nâng cao dân trí, không ngừng cung cấp những tri thức, kỹ thuật mới làm công cụ để phát triển đất nước.

Ở Việt Nam ta, gần đây khái niệm “xã hội học tập suốt đời” bắt đầu được nhắc đến như một khái niệm vẫn còn rất mới mẻ. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay, các nhà giáo dục Việt Nam không thể bỏ qua một xu thế phát triển tất yếu của nền giáo dục, đó là xã hội hóa giáo dục, xây dựng một “xã hội học tập suốt đời” làm nền tảng cho việc đào tạo nguồn nhân lực phát triển đất nước. Học tập kinh nghiệm của các nước đã thành công trong lĩnh vực này như Nhật Bản là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của Việt Nam.

 

1. Khái niệm “xã hội học tập suốt đời”

Ngày nay, hầu như các quốc gia trên Thế giới đều có quan điểm chung về vấn đề giáo dục và học tập: đó là việc học tập của mỗi con người không thể đặt dấu chấm hết ngay sau quá trình học tập tại nhà trường phổ thông khi họ còn trẻ, mà phải được duy trì trong suốt cuộc đời của họ. Cũng có những quốc gia đã sớm đưa ra được những chính sách cụ thể để xây dựng “xã hội học tập suốt đời” như nước Anh. Cũng có những quốc gia lại tiến hành công cuộc xây dựng xã hội học tập suốt đời từ mục tiêu tăng cường đào tạo nghề,  nhằm đối phó với nạn thất nghiệp như ở Mỹ và một số nước châu Âu. Còn ở Nhật Bản, quan niệm về nội dung “học tập suốt đời” tương đối rộng rãi, và các thể chế để xây dựng “xã hội học tập suốt đời” cho đến nay vẫn đang được thẩm định và hoàn thiện.

Ở Nhật Bản, “học tập suốt đời” có ý nghĩa là toàn bộ những hoạt động học tập trong suốt cuộc đời của một con người, bao gồm giáo dục nhà trường, giáo dục xã hội, các hoạt động văn hóa, thể thao, các hoạt động ngoại khóa nhằm giải tỏa căng thẳng (recreation), các hoạt động tình nguyện, hoạt động đào tạo trong công ty, xí nghiệp và các hoạt động học tập khác được tiến hành theo sở thích và tại các địa điểm đa dạng. Còn “xã hội học tập suốt đời” được quan niệm là xã hội mà “mọi người có thể tự do lựa chọn cơ hội học tập ở bất cứ giai đoạn nào trong cuộc đời, và thành quả học tập đó được công nhận một cách thích đáng[1]”.

Về vấn đề cần thiết phải xây dựng “xã hội học tập suốt đời” ở Nhật Bản, có thể thấy một số lý do như sau:

Thứ nhất, để thích nghi được với sự thay đổi của nền kinh tế, xã hội, mỗi người cần phải không ngừng học tập những tri thức và kỹ thuật mới. Xây dựng một nền tảng cơ sở đáp ứng một cách chính xác những nhu cầu học tập này, để mỗi cá nhân có thể thực hiện việc “học tập suốt đời”  không chỉ có vai trò quan trọng trong việc nâng cao tri thức và trình độ học vấn của mỗi cá nhân, mà còn là đào tạo nguồn nhân lực, góp phần vào việc phát triển kinh tế, xã hội.

Thứ hai, ở Nhật Bản hiện nay tồn tại vấn đề “xã hội già hóa”. Đặc trưng của xã hội già hóa là thời gian nhàn rỗi trong dân chúng tăng lên, và vì vậy, cũng nảy sinh nhu cầu học tập nhằm làm phong phú thêm đời sống tinh thần và tăng thêm ý nghĩa cuộc sống. Trong bối cảnh đó, việc chuẩn bị cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu học tập như vậy không chỉ có ý nghĩa đối với mỗi cá nhân có nhu cầu học tập, mà còn có ý nghĩa đối với toàn xã hội như: nâng cao môi trường văn hóa địa phương, kêu gọi sự tham gia của người cao tuổi vào các hoạt động xã hội cũng như thực hiện được một nền giáo dục toàn diện đối với thanh, thiếu niên.

Thứ ba, việc xây dựng một xã hội có khả năng đánh giá năng lực của từng con người không phải qua bằng cấp mà qua những thành quả học tập rất phong phú trong suốt cuộc đời của họ còn là một bộ phận quan trọng của chương trình cải cách giáo dục đang được Bộ Khoa học Giáo dục Nhật Bản tiến hành với mục tiêu xóa bỏ những tàn dư, ảnh hưởng tiêu cực của xã hội bằng cấp trước đây.

Tháng 6-2005, Ủy ban giáo dục Trung ương đã đề ra “Kế hoạch phát triển học tập suốt đời hướng tới một thời đại mới”. Hiện tại, Hội Phân khoa học tập suốt đời[2] đang tiến hành thẩm định các đối sách cụ thể nhằm chấn hưng các hoạt động học tập trong cuộc sống thường ngày của nhân dân và hoàn thiện môi trường giáo dục trẻ em tại gia đình và địa phương.

Cho đến nay, Bộ Khoa học Giáo dục Nhật Bản vẫn không ngừng phát triển các cơ sở đào tạo tại các trường đại học, mở rộng cơ hội học tập cho đối tượng người trưởng thành (người lớn), phát triển mô hình đào tạo đại học từ xa qua phương tiện phát thanh truyền hình, mở rộng các hình thức và cơ hội học tập thông qua hệ thống giáo dục xã hội. Mặt khác, các cơ chế, chính sách nhằm xây dựng “xã hội học tập suốt đời” cũng đang được kiến thiết.

2. Bối cảnh xây dựng “xã hội học tập suốt đời” ở Nhật Bản

2.1. Sự căng thẳng trong cuộc sống nhà trường và yêu cầu đổi mới về phương pháp học tập:

Vào những năm 1980, những ảnh hưởng tiêu cực của xã hội bằng cấp ở Nhật Bản đã in dấu ấn sâu đậm lên cuộc sống nhà trường của trẻ em ở mức độ báo động. Theo thống kê của Bộ Giáo dục Nhật Bản, vào năm 1983 có tới 3.547 vụ bạo lực học đường xảy ra tại các trường THCS, 768 vụ tại các  trường THPT. Con số này đã tăng đột biến vào năm 1996 với 8.169 vụ xảy ra tại các trường THCS, 2.406 vụ tại các trường THPT[3]. Năm 2001, lần đầu tiên kể từ năm 1997, số vụ bạo lực học đường có xu hướng giảm xuống sau nhiều năm liên tục tăng (con số thống kê không so sánh được vì kể từ năm 1997, Bộ Giáo dục Nhật Bản đã thực hiện cách tính mới[4]). Tình trạng bắt nạt bạn (ijime), nghỉ học trên 30 ngày trong một năm và bỏ học cũng ở mức độ đáng quan ngại. Năm 2001, có tới 25.037 vụ trêu chọc, bắt nạt xảy ra trong 8.085 trường tiểu học, THCS và THPT công lập[5]. Cũng trong cùng năm, số học sinh không đến trường được thống kê là 138.722 người, chiếm 1,2% tổng số học sinh ba cấp. Số học sinh bỏ học tại các trường THPT là 104.894 người, chiếm 2,8% số học sinh cấp ba trên toàn nước Nhật. Ngoài ra, số trẻ vị thành niên phạm tội hình sự được Sở cảnh sát thống kê vào năm 2001 là 138.654 người, chiếm 16% dân số trẻ em cùng độ tuổi[6]. Nguyên nhân của tình trạng này do nhiều vấn đề phức tạp đan xen, trong đó nổi bật là các vấn đề giáo dục trong nhà trường. Đó là sự thiếu hợp lý của hệ thống giáo dục nhà trường vốn chỉ tập trung vào vấn đề thi cử nhằm phục vụ cho việc tuyển chọn nhân sự, nghề nghiệp. Tình trạng này kéo dài hàng chục năm, dẫn đến sự căng thẳng trong cuộc sống nhà trường. Sức ép nặng nề trước mỗi kỳ thi cử, cộng với việc đánh giá năng lực con người phiến diện, thiếu công bằng vì chỉ dựa trên điểm bài thi đã dẫn đến tâm lý chán học hoặc nổi loạn trong giới học sinh. Tất nhiên, ngoài yếu tố giáo dục trong nhà trường, còn một số nguyên nhân khác như: tỉ lệ sinh con thấp và tốc độ đô thị hóa cao dẫn đến sự thiếu hụt nghiêm trọng các sân chơi dành cho trẻ em, cũng như môi trường sinh hoạt giao tiếp giữa chúng. Công nghệ thông tin phát triển, bên cạnh những mặt tích cực do những tiện ích mà nó đem lại, còn một số ảnh hưởng tiêu cực như tạo cơ hội để trẻ em tiếp xúc quá sớm và dễ dàng với các yếu tố bạo lực và tình dục trên mạng internet... Theo điều tra của Bộ Khoa học Giáo dục vào tháng 10-2001, số trẻ em Nhật Bản sở hữu những thiết bị điện tử ở mức độ khá cao so với các nước trên Thế giới.

 

Bảng 1: Tình hình sở hữu các thiết bị điện tử của trẻ em Nhật Bản

 

Nguồn: “Điều tra về ý thức và cuộc sống của học sinh trung học” (Điều tra do Sở Nghiên cứu thanh thiếu niên Nhật Bản tiến hành từ tháng 10-2001 đến tháng 3-2002). Sách trắng giáo dục 2002, tr.40.

 

Học sinh tiểu học năm thứ 3

Học sinh tiểu học năm thứ 5

Học sinh THCS

năm thứ 2

Học sinh THPT

năm thứ 2

Tivi

39,8%

44,1%

59,2%

66,6%

Điện thoại di động

11,2%

12,4%

24,9%

78,1%

Máy tính xách tay

23,6%

28,2%

33,6%

38,8%

Trò chơi điện tử qua tivi

65,7%

74,3%

78%

72%

Trò chơi điện tử cầm tay

71.0%

77,3%

72,9%

52,8%

Cũng theo điều tra này, trong những năm gần đây sự thay đổi nhanh chóng về các điều kiện vật chất xã hội cũng dẫn đến sự thay đổi thang giá trị đạo đức xã hội, kéo theo những thay đổi lớn trong cách suy nghĩ của giới trẻ Nhật Bản về mục đích và ước mơ đối với tương lai của họ. Nếu làm một phép so sánh với hai quốc gia Mỹ và Trung Quốc, có thể thấy sự đánh giá của giới trẻ Nhật Bản đối với chính thế hệ của họ mang nhiều màu sắc tiêu cực, và mục đích, mơ ước cống hiến cho xã hội của họ cũng mờ nhạt hơn so với hai quốc gia trên.

Bảng 2: Tự đánh giá bản thân

Nguồn: “Điều tra về ý thức và cuộc sống của học sinh trung học” (Điều tra do Sở Nghiên cứu thanh thiếu niên Nhật Bản tiến hành từ tháng 10-2001 đến tháng 3-2002). Sách trắng giáo dục 2002, tr.41.

 

Nhật Bản

Mỹ

Trung Quốc

Đôi khi cảm thấy mình là người không có ích

19,1%

12,8%

9,2%

Tự hài lòng với bản thân mình

9,4%

53,5%

24,3%

Cảm thấy mình có giá trị hơn người khác

8,8%

51,8%

49,3%

Lên kế hoạch và cảm thấy mình có đủ tự tin để đạt được kế hoạch đã đề ra

9,8%

54,2%

32,8%

Nghĩ rằng mình chẳng có gì đáng để tự hào

14,9%

9,1%

10,2%

 

Như vậy, một yêu cầu mới được đặt ra là phải đổi mới không khí học tập trong nhà trường, đổi mới phương pháp giảng dạy từ nhồi nhét kiến thức theo kiểu luyện thi sang hình thức giảng dạy gắn với thực tiễn cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, giảm sự căng thẳng trong cuộc sống nhà trường bằng cách giảm nội dung và thời lượng các giờ học. Chế độ học 5 ngày/tuần bắt đầu được thực hiện thí điểm từ tháng 9-1992 mỗi tháng thực hiện 1 tuần, từ tháng 4-1995 mỗi tháng 2 tuần và thực hiện toàn phần vào năm 2002. Trên cơ sở Chế độ học 5 ngày/tuần được thực hiện, nhiều Dự án và Kế hoạch tăng cường các hoạt động “thể nghiệm cuộc sống”, các chương trình sinh hoạt văn hóa thể thao, lao động tình nguyện... dành cho trẻ em đã được tích cực thực hiện tại các địa phương, tạo không khí sôi nổi cho việc xây dựng “xã hội học tập suốt đời” ở Nhật Bản.

2.2. Yêu cầu nâng cao ý thức làm việc và thực hiện tái đào tạo đối với bộ phận thanh niên làm việc tự do (Freeter) và không có việc làm (Nit):

Những năm gần đây, xã hội Nhật Bản sửng sốt bởi tỉ lệ thanh niên thất nghiệp lên tới 10%[7], và một phần trong số này là những thanh niên thất nghiệp một cách tự nguyện mà danh từ chuyên môn gọi họ là “Nit”. Số thanh niên làm việc tự do, làm thêm, không có nghề nghiệp ổn định (Freeter) cũng lên tới hơn 2 triệu người.

Freeter (được ghép từ chữ Free - tự do trong tiếng Anh và Arbeiter - công nhân trong tiếng Đức) là thuật ngữ chỉ những người ở độ tuổi từ 15-34, đã tốt nghiệp một loại trường học nào đó, nếu là phụ nữ thì chưa kết hôn. Đặc điểm của họ là: ①Nếu hiện tại đang có việc làm thì vị trí của họ tại nơi tuyển dụng được gọi là “làm thêm”, “làm ngoài giờ”. ②Nếu là những người chưa có việc làm thì họ cũng không phải là người đang đi học hay nội trợ mà mục tiêu kiếm việc làm trong tương lai của họ là những việc kiểu như “làm thêm”, “làm ngoài giờ”. Năm 2004 toàn Nhật Bản có khoảng 2.130.000 freeter (theo bản Phân tích tình hình kinh tế lao động tại Nhật Bản)[8].

Nguyên nhân trở thanh freeter của một bộ phận thanh niên Nhật Bản là do quan niệm về công việc của họ đã thay đổi. Họ không muốn “cật lực lao động trong các đoàn thể nghiêm khắc truyền thống của các tập đoàn sản xuất cho tới khi được bù đắp bằng hình thức phúc lợi hậu hĩnh” như thế hệ cha anh họ. Ngược lại, họ chỉ muốn “làm việc vừa đủ, nhưng lại vui chơi hết mức có thể”[9].

Nit là từ viết tắt của “Not in Education, Employment or Training”, chỉ những người không nghề nghiệp, không đi học và cũng không có ý định kiếm việc làm. Bộ Lao động Nhật Bản đưa ra khái niệm về họ là: những thanh niên có độ tuổi từ 15-34, nằm trong thống kê về dân số không đi học và không làm công việc nội trợ trong nhà. Năm 1993 Nhật Bản có 400.000 Nit, năm 2004 đã tăng lên thành 640.000 người (Phân tích tình hình kinh tế lao động tại Nhật Bản, 2005)[10].

Năm 2005, đầu tư cho việc thực hiện các chính sách giáo dục đối với bộ phận thanh niên không có việc làm mà người ta thường gọi là Nit, Bộ Giáo dục Nhật Bản đã thực hiện cuộc điều tra phỏng vấn đối với họ.  Phỏng vấn được thực hiện với 33 người ở tình trạng không có nghề nghiệp hoặc tình trạng tương từ, tuổi từ 18 đến 36, thu được kết quả như sau:

1) Đối với những người đã từng là nhân viên chính thức tại các công ty, phần nhiều trường hợp do áp lực quan hệ con người, gây căng thẳng tâm lý dẫn đến tình trạng nghỉ việc và trở thành Nit.

2) Đã trúng tuyển vào học tại một trường nào đó, nhưng do nhập học mà chưa xác định được mục đích học, hoặc trong quá trình học cảm thấy nội dung học tập không phù hợp, do đó bỏ học giữa chừng, đành phải “làm thêm” tạm một thời gian và sau đó trở thành Nit. Cũng có trường hợp đã được tuyển dụng, nhưng do được tuyển quá dễ dàng nên chán, bỏ việc, đã từng “làm thêm” và cuối cùng trở thành Nit.

3) Có người do nghỉ học quá dài dẫn đến bỏ học.

4) Có những trường hợp Nit chịu áp lực của một nền giáo dục gia đình hà  khắc. Nhưng so sánh với sự nghiêm khắc trong giáo dục con cái, thì những bậc cha mẹ của họ lại quá dễ dãi đến mức phó thác hoàn toàn việc học lên và lựa chọn công việc cho họ. Những người này do đã quen phụ thuộc vào sự sắp đặt của cha mẹ trong gia đình, nên khi bị “ném” ra ngoài xã hội, trở nên mất phương hướng, không thể và cũng không muốn tìm việc làm.

Bên cạnh đó, kết quả điều tra thực hiện đối với những cơ quan, đoàn thể đang tiến hành trợ giúp đối với Nit cho thấy: đối với Nit - những người thất nghiệp do thiếu ý thức lao động, ngoài bản thân và gia đình thì vai trò của người thứ ba cũng rất cần thiết. Họ cần những sự giúp đỡ hết sức cụ thể, họ cần ra ngoài tiếp xúc với những cơ hội và những hoạt động mang tính xã hội. Vì vậy, phương pháp dự phòng được đề ra là: ngay từ trong giai đoạn học phổ thông, cần phải đẩy mạnh các cơ hội được thực tập, thể nghiệm việc làm tại công sở, nhà máy, xí nghiệp nhằm bồi dưỡng ý thức lao động đúng đắn cho trẻ em..., mặt khác nhanh chóng có những biện pháp giúp đỡ những học sinh nghỉ học và bỏ học giữa chừng. Còn đối với bộ phận thanh niên Freeter, cần phải thực hiện tái đào tạo đối với họ, tạo điều kiện cho họ được đào tạo chuyên sâu tại các cơ sở giáo dục bậc cao, vì hầu hết những người này đều đã tốt nghiệp trường cấp ba hoặc đại học. Đây cũng là những tiền đề cơ bản để các địa phương lập kế hoạch “xây dựng xã hội học tập suốt đời”, trong đó một phần quan trọng của kế hoạch là “giúp đỡ thanh, thiếu niên nâng cao tính tự lập và ý thức làm việc”.

2.3. Nhu cầu học tập của người đang làm việc:

Hiện nay, sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ đòi hỏi người lao động phải không ngừng học tập những tri thức, kỹ thuật mới, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của công việc. Để đáp ứng một cách thích đáng nhu cầu học tập của người lao động trong giai đoạn này, năm 2005 Bộ Khoa học Giáo dục Nhật Bản đã tiến hành điều tra về “Thực trạng các hoạt động học tập của toàn dân”[11]. Cuộc điều tra nhằm tìm hiểu các điều kiện cần thiết để người đang đi làm có thể thực hiện được các hoạt động học tập nâng cao trình độ nghề nghiệp, cũng như nắm bắt được nhu cầu học tập của họ và  nguyên nhân đang gây cản trở đối với các hoạt động này, đồng thời cũng tìm hiểu những yêu cầu về điều kiện vật chất tại các cơ sở giáo dục dành cho họ.

Kết quả của cuộc điều tra cho thấy: đối với người đang đi làm và sinh viên đại học, các môn học thêm chiếm tỷ lệ cao là “tin học”, “giao tiếp” và “ngôn ngữ”..., trong đó môn “tin học” đ­ược 76,8% số ngư­ời đ­ược hỏi đánh giá là “rất có ích”.

Kết quả điều tra cũng cho biết vẫn còn tồn tại tình trạng “có nhu cầu học nhưng không thể thực hiện được”. Nguyên nhân chính là:­ “không có thời gian rỗi” (số người trả lời: 62,7%), “học phí và giáo trình đắt quá” (49,1%) đều là những nguyên nhân thuộc về mặt thời gian và tình hình tài chính. Ngoài ra, còn một số nguyên nhân khác như:­ “chư­a có động cơ và mục đích học” (34,9%), “không có hứng thú học” (34,7%), “không biết bắt tay vào học như thế nào” (23,1%).

Nếu phân tích các nguyên nhân này theo đối tư­ợng nghề nghiệp thì có thể thấy: với các nhân viên làm việc chính thức tại công ty thì lý do thuộc về mặt thời gian, với nhân viên thực tập thì lý do là về mặt tài chính, còn đối với nhân viên hợp đồng ngắn hạn, những ngư­ời chư­a có nghề nghiệp hoặc học sinh, sinh viên thì vấn đề nằm ở “động cơ, mục đích học”. Đó là những nguyên nhân chính cản trở việc học tập của họ.

Điều tra về các cơ sở giáo dục cho biết, người dân kỳ vọng ở các cơ sở đào tạo bậc cao (tiêu biểu là các trường đại học) về “chương trình đào tạo hoàn thiện không chỉ về mặt nội dung kiến thức, kỹ năng mà còn về mặt phương pháp luận, phương pháp tư duy” hay “giáo dục cần gắn với thực tiễn”.... Nói tóm lại, vấn đề tri thức chuyên môn được phát huy như thế nào trong thực tiễn công việc hiện đang là vấn đề được quan tâm. Bên cạnh đó, đối với các cơ sở giáo dục xã hội, vấn đề chủ yếu được đề cập đến là: “Cần phải hoàn thiện hệ thống giáo trình học và thư viện”, “mở rộng thời gian học tập” (như tăng thêm số buổi học...), “hoàn thiện môi trường và điều kiện sử dụng internet”. Đặc biệt, kết quả điều tra còn cho thấy đối tượng học viên yêu cầu “hoàn thiện hệ thống internet chủ yếu là  thanh niên độ tuổi từ 20-30, những người kinh doanh nhỏ, nhân viên công ty loại tập việc và sinh viên...

Kết quả điều tra này được sử dụng tại Hội phân khoa học tập suốt đời - Ủy ban giáo dục Trung ương để hoàn thiện hơn nữa các đối sách cho việc phát triển “xã hội học tập suốt đời”.

2.4. Xã hội già hóa và nhu cầu học tập của người cao tuổi:

Xã hội già hóa là vấn đề mà Nhật Bản chủ định đối mặt và từng bước có biện pháp giải quyết ngay từ những năm 1990. Nếu như vào năm 1998, tỉ lệ người già ở Nhật Bản đã ở mức 16,2% thì vào năm 2002 tỉ lệ này đã tăng lên chiếm 25% dân số[12]. Con số người già tăng nhanh không những làm tăng gánh nặng chi phí phúc lợi xã hội về y tế, tiền lương hưu..., mà còn làm nảy sinh những vấn đề khác về mặt văn hóa, tinh thần của xã hội. Chính vì vậy, để xây dựng một sức sống mới phong phú cho xã hội già hóa, song song với việc thực hiện chế độ tuyển dụng đối với người trung-cao niên, cần phải tạo cho họ cơ hội được học tập để có thể nâng cao trình độ nghề nghiệp, tiếp thu những kiến thức và kỹ năng mới. Đồng thời, việc tổ chức các hoạt động tình nguyện, các hoạt động học tập theo sở thích cũng giúp cho người già có thể tham gia đóng góp cho xã hội, làm cho họ thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn.

Hiện nay, cơ sở giáo dục xã hội tiêu biểu dành cho người già ở Nhật Bản là các Nhà sinh hoạt địa phương (kominkan). Tại đây, thường xuyên tổ chức các lớp học, khóa học dành cho người cao tuổi và các buổi giao lưu giữa các thế hệ thanh, thiếu niên với người cao tuổi. Ngoài ra, “Diễn đàn người cao tuổi toàn quốc tham gia vào các hoạt động xã hội” được tổ chức hàng năm cũng là một cơ hội để quần chúng nhân dân cùng suy nghĩ về vai trò của người già trong xã hội. Và, từ năm 2002, cơ chế liên kết các tổ chức hành chính và tổ chức phi chính phủ NPO đã được xây dựng tại các địa phương với mục đích khuyến khích người già tham gia vào việc giải quyết các vấn đề của địa phương, đồng thời triển khai các hoạt động giao lưu, tiếp xúc giữa trẻ em và người cao tuổi.

Như vậy, có thể nói, tình trạng xã hội già hóa nhanh chóng cũng là một động cơ thúc đẩy công cuộc xây dựng “xã hội học tập suốt đời” ở Nhật Bản.

2.5. Sự cần thiết phải thay đổi từ “xã hội bằng cấp” sang mô hình “xã hội học tập suốt đời”:

Vào những thập kỷ 1970-1980, ở Nhật Bản bùng nổ hiện tượng học thêm với quan niệm “để thi đỗ vào các trường đại học danh tiếng, cần phải được học tập tại những trường phổ thông cấp 3 hàng đầu, và để vào học được tại các trường cấp 3 hàng đầu, cần phải thi đỗ vào các trường tiểu học và trung học hàng đầu”, cứ như vậy cuộc cạnh tranh thi cử cuốn vào vòng xoáy của nó cả những trẻ em còn đang tuổi mẫu giáo. Theo thống kê của Bộ Giáo dục Nhật Bản, vào năm 1985, có tới 16,7% trẻ em mẫu giáo đi học tại các lớp học thêm luyện thi vào trường tiểu học[13]. Tất nhiên, không phải những trẻ em này tự mình muốn tham gia vào các cuộc đua tranh thi cử khắc nghiệt mà chính là cha mẹ họ với suy nghĩ “thành công ở nhà trường là thành công ở cuộc đời, mảnh bằng là tờ hộ chiếu vào các hãng lớn, là điều kiện để có công ăn việc làm suốt đời ở đó[14]”. Thậm chí đã có cả “cuộc thi vấn đáp dành cho các bậc phụ huynh” khi con họ chuẩn bị thi vào các trường tiểu học. Xã hội bằng cấp đã đẻ ra những hiện tượng nực cười như vậy. Tất nhiên, đằng sau  những điều nực cười là hàng loạt các hiện tượng đau lòng như: stress, nạn bắt nạt, tự tử vì học tập căng thẳng hoặc vì bị bạn bắt nạt, chán học, bỏ học, nổi loạn... trong giới học sinh.

Chính vì vậy, “xóa bỏ căn bệnh xã hội bằng cấp”, “thay đổi cách nhìn phiến diện đối với năng lực con người khi chỉ dựa trên những kỳ thi”, “xây dựng xã hội học tập suốt đời mà ở đó, người ta có thể chủ động học tập ở bất kỳ thời điểm nào cuộc đời, và thành quả học tập đó được công nhận một cách thích đáng” đã trở thành những nội dung quan trọng của cuộc Cải cách giáo dục đang được tiến hành ở Nhật Bản từ năm 1984 đến nay.

 

Ths. Ngô Hương Lan, Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản, Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á.

Trích đề tài cấp Viện năm 2006, "Vấn đề xây dựng xã hội học tập suốt đời ở Nhật Bản".

2.1. Thể chế hành chính hỗ trợ thực hiện “xã hội học tập suốt đời”

“Học tập suốt đời” là một khái niệm hết sức rộng lớn, vì vậy, trách nhiệm thực hiện xây dựng “xã hội học tập suốt đời” không chỉ giới hạn ở một số cơ quan giáo dục như Bộ Khoa học Giáo dục Nhật Bản, Ủy ban giáo dục Trung ương và các Ban giáo dục địa phương, mà phải bao gồm tất cả các tổ chức, đoàn thể công cộng địa phương, các cơ quan hành chính  địa phương, các cơ sở  đào tạo nghề, cơ sở giáo dục tư nhân... Việc thực hiện xã hội học tập suốt đời phải do những chủ thể đa dạng tiến hành bằng các hình  thức hết sức đa dạng.

Chính vì vậy, việc xây dựng được một thể chế, chính sách có thể đoàn kết và hợp tác giữa các cơ quan, đoàn thể và tổ chức trên là vô cùng cần thiết.

2.1.1. Cơ cấu tổ chức tại Bộ Khoa học Giáo dục.

Tại Bộ Khoa học giáo dục Nhật Bản, ngoài việc thiết lập Cục chính sách học tập suốt đời, Uỷ ban giáo dục Trung ương còn thành lập Hội phân khoa học tập suốt đời có trách nhiệm tiến hành điều tra, thẩm định những vấn đề cần thiết liên quan đến việc xúc tiến xây dựng “xã hội học tập suốt đời”.

Ngoài ra, Bộ Khoa học Giáo dục đã thành lập Phòng Phát triển giáo dục tư nhân trực thuộc Cục chính sách học tập suốt đời với tư cách là một “cửa sổ” chi viện cho các hoạt động học tập suốt đời tại các cơ sở giáo dục tư nhân. Mặt khác, với mục tiêu hỗ trợ cho Phong trào phát triển khu vực tại các thành phố, làng mạc, thị trấn thông qua phát triển các phong trào giáo dục, văn hóa, thể thao tại địa phương, Phòng Hỗ trợ phát triển khu vực cũng được thành lập với cơ cấu bao gồm các cán bộ được điều chuyển từ Sở Văn hóa, Cục Thể thao và Thanh thiếu niên, Cục Giáo dục bậc cao, Cục Giáo dục bậc Sơ, Trung và trọng tâm là Cục Chính sách học tập suốt đời.

Bên cạnh đó, Tạp chí thông tin tổng hợp mang tên “Manabi” đã được phát hành, chuyên cung cấp thông tin về các chính sách và hoạt động nhằm thúc đẩy phát triển xã hội học tập suốt đời. Song song với đó, Bộ Khoa học Giáo dục còn tiến hành các cuộc điều tra-nghiên cứu, in ấn và phát hành các “Tập chuyên mục” giới thiệu về hoạt động học tập suốt đời tại các địa phương. Ngoài ra, Ban giáo dục địa phương, các đoàn thể giáo dục xã hội tư nhân, tổ chức phi chính phủ NPO và các tập đoàn kinh tế cũng liên kết tổ chức các cuộc hội nghị và trao đổi ý kiến định kỳ về vấn đề này.

2.1.2. Cơ cấu tổ chức tại các địa phương.

①Tình hình chuẩn bị về cơ cấu tổ chức hành chính.

Cùng với việc thành lập Phòng quản lý học tập suốt đời tại tất cả các tỉnh thành trong cả nước, tính đến tháng 6-2005 tại 37 tỉnh thành trên toàn nước Nhật còn thành lập Hội Nghiên cứu phát triển học tập suốt đời với vai trò điều tra, thẩm định về các vấn đề liên quan đến việc xúc tiến xã hội học tập suốt đời tại các địa phương. Ngoài ra, ở hầu hết các thôn, làng đều có một Bộ phận phụ trách vấn đề học tập suốt đời.

②Kế hoạch phát triển học tập suốt đời

Tính đến tháng 6-2005, 43 tỉnh, thành phố của Nhật Bản đã xác lập được “Kế hoạch trung, dài hạn về vấn đề thúc đẩy học tập suốt đời”. Ngoài ra, có 1.350 thị trấn, thôn, làng cũng đã đề ra được Cơ sở và Kế hoạch cơ bản về vấn đề này. Hơn thế nữa, Phong trào xây dựng“Thành phố học tập suốt đời”được phát động tại nhiều địa phương, được đông đảo quần chúng  nhân dân ủng hộ. Hiện nay đã có 124 thành phố và thị trấn được công nhận danh hiệu này.

③Trung tâm xúc tiến học tập suốt đời

Ở hầu hết các địa phương Nhật Bản, cơ quan nòng cốt của phong trào xây dựng xã hội học tập suốt đời mang tên “Trung tâm xúc tiến học tập suốt đời” đã được thành lập. Mục tiêu hoạt động của trung tâm này là cung cấp thông tin, tổ chức tư vấn về các vấn đề liên quan đến học tập, tìm hiểu nhu cầu học tập của người dân cũng như tiến hành tổ chức các Chương trình học tập. Tháng 6-2005 có 46 trung tâm như vậy tại các tỉnh, thành phố lớn và gần 400 cơ sở nhỏ tại các làng mạc, thị trấn.

④ “Hiệp hội thôn, làng, thị trấn học tập suốt đời” trên quy mô toàn quốc

Tháng 11-2005, “Hiệp hội thôn, làng, thị trấn học tập suốt đời” trên quy mô toàn quốc đã được thành lập với mục tiêu tạo một mạng lưới liên hệ, trao đổi nhân lực và kinh nghiệm, tăng cường sự liên kết giữa các địa phương đang tiến hành “xây dựng thành phố” (machidukuri) thông qua việc phát triển xã hội học tập suốt đời. Tính đến tháng 8-2005 đã có 175 thị trấn, thôn làng gia nhập vào Hiệp hội này.

⑤Phong trào “xây dựng khu vực” thông qua “phát triển tài nguyên con người”.

Để xúc tiến “xây dựng khu vực” thông qua “phát triển con người”, Cục Chính sách học tập suốt đời đã tiến hành tổ chức nghiên cứu, điều tra và phân tích các ví dụ thực tiễn đặc sắc về “xây dựng khu vực” tại các quốc gia tiên tiến, tìm hiểu vấn đề nâng cao năng lực quản lý cũng như cung cấp những số liệu cụ thể có liên quan. Đồng thời, Cục Chính sách học tập suốt đời còn phái các chuyên gia đến hướng dẫn, tư vấn nhằm tăng cường khả năng giúp đỡ, tư vấn của cơ quan trung ương đối với các thành phố, thôn, làng đang tiến hành công cuộc “xây dựng khu vực”.

2.2. Nội dung thực hiện xây dựng “xã hội học tập suốt đời”

2.2.1. Cải cách giáo dục nhà trường, mở rộng chức năng và thiết bị của trường học để phục vụ nhu cầu học tập của xã hội

Giáo dục nhà trường có vai trò quan trọng là “tạo dựng nền tảng cơ bản cho việc học tập suốt đời của một con người”[1]. Đặc biệt, giáo dục tiểu học và trung học là giai đoạn giúp cho mỗi con người hình thành năng lực cần thiết để phát triển sự nghiệp học tập trong các giai đoạn sau của cuộc đời, đồng thời cũng nuôi dưỡng ý thức và thái độ đối với việc học tập.

Hiện nay, giáo dục nhà trường đang được cải cách từ chương trình đến nội dung các môn học. Nội dung giáo dục được tinh lọc giảm 1/3 so với nội dung học cũ. Chương trình học trên lớp được giảm nhẹ, tăng các giờ học đạo đức, sinh hoạt ngoại khóa, tham quan dã ngoại, thực tập việc làm, tình nguyện giúp đỡ người già tại các nhà dưỡng lão... dưới tên gọi môn học “thể nghiệm cuộc sống”. Phương pháp giảng dạy cũng được cải tiến bằng việc xây dựng các giờ học lấy học sinh làm trung tâm, theo hình thức tự học. Mỗi học sinh phải tự quyết định mục đích của mình trong giờ học đó: “học cái gì?” và tự tìm kiếm phương pháp học tập: “làm thế nào để đạt được mục tiêu đã đề ra?”. Giáo viên có trách nhiệm hướng dẫn để học sinh tự học với hiệu quả cao nhất. Tóm lại, phương châm cải cách giáo dục nhà trường là: 1) Hướng tới một nền giáo dục có khả năng nuôi dưỡng những con người có trái tim nhân hậu; 2) Giáo dục ý thức tự học tập và khả năng chủ động ứng phó với những biến đổi của xã hội; 3) Từ giáo dục mẫu giáo, tiểu học, trung học đến đại học đều chú trọng tới những nội dung giáo dục cơ bản, cần thiết để hình thành một công dân có ích cho xã hội, giáo dục chú ý phát huy cá tính của mỗi cá nhân.

Nhà trường, ngoài vai trò tạo dựng nền tảng cơ bản cho việc học tập suốt đời như vậy, còn có trách nhiệm cung cấp cơ hội học tập suốt đời, đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của mọi thành viên trong xã hội. Hình thức cung cấp “cơ hội học tập suốt đời”, nói một cách đơn giản, chính là cung cấp thiết bị, cơ sở vật chất của nhà trường cho mọi người dân được sử dụng, đồng thời tiếp nhận các đối tượng học viên là người đang đi làm hoặc những đối tượng khác không thuộc lứa tuổi học sinh được trở thành học viên chính quy học tập tại nhà trường. Đặc biệt, hiện nay các cơ quan giáo dục sau trung học như các trường cao đẳng, đại học đã liên tục mở các khóa học dành cho phụ nữ, người đang đi làm và người cao tuổi. Mỗi trường học đều phát huy cá tính của mình trong việc xây dựng chương trình, nội dung giảng dạy và chế độ tuyển sinh linh hoạt.

- Cung cấp các thiết bị của nhà trường cho nhân dân địa phương sử dụng:

Vấn đề cung cấp thiết bị, cơ sở vật chất của nhà trường cho nhân dân địa phương đã được tiến hành ngay từ những năm 1970. Theo thống kê của Bộ Giáo dục Nhật Bản về tình hình cung cấp thiết bị của các trường tiểu học, THCS và THPT thì vào năm 1984, đã có tới 84% trường tiểu học công lập mở cửa cho người dân sử dụng tự do sân vận động ngoài trời. Tại các trường THCS, con số này là 78% và tại các trường THPT là 45%. Đối với sân vận động có mái che, con số này là 86% tại các trường tiểu học, 81% trường THCS và 33% trường THPT. Ngoài ra, cũng có 358 trường đại học (chiếm 78% tổng số trường đại học) cho sử dụng sân trường và các thiết bị thể thao, số người sử dụng lên tới 1.770.000 người.

Tuy nhiên, so sánh với tỉ lệ sử dụng cho các hoạt động thể dục, thể thao như đã kể trên thì tỉ lệ sử dụng vì mục đích học văn hóa vẫn còn ở mức độ thấp. Hiện nay, chỉ có các trường đại học - với tư cách là những trung tâm thông tin của “xã hội học tập suốt đời” đang mở cửa cho người dân địa phương sử dụng thư viện. Năm 1984, có 454 trường đại học (chiếm 96% tổng số trường đại học) đã cung cấp thư viện cho người dân sử dụng. Số người đọc sách tại đây cũng lên tới 240.000 người[2].

- Tổ chức các Khóa học mở, các Trung tâm đào tạo đại học tự do tại các trường đại học:

Khóa học mở tại các trường đại học là nơi truyền bá trực tiếp đến xã hội các thành quả về giáo dục và nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, cung cấp cho người dân cơ hội được học tập kiến thức chuyên môn cao. Quan sát tình hình phát triển các Khoá học mở như vậy, có thể thấy tốc độ mở rộng nhanh chóng. Nếu như vào năm 1977 mới chỉ có 684 Khóa học mở được tổ chức, thì đến năm 1986 đã tăng lên đến 2.511 khóa học, và năm 2004 là 21.000 khóa học. Tương tự, số người học cũng tăng từ 81.000 người vào năm 1977, đến 330.468 người vào năm 1986 và 1.060.000 người vào năm 2004[3].

Bên cạnh đó, có một số Trung tâm đào tạo đại học tự do đã được mở tại một số trường đại học như Đại học Tohoku, Đại học Koshu... với chức năng chuyên tổ chức các Khóa học mở, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân.

- Thiết kế các Khóa học mở tại các trường cấp 3:

Những năm gần đây, không chỉ các trường đại học mà cả các trường THPT cũng trở thành một địa điểm cung cấp cơ hội học tập suốt đời cho mọi người dân. Tại đây, các khóa học mở được tổ chức, đã thu hút sự tham gia của nhiều người dân. So sánh với con số 351 Khóa học mở được tổ chức tại các trường THPT vào năm 1980, thì năm 1986 đã tăng lên gấp 2,5 lần, thành 895 khóa học. Số người tham gia cũng tăng từ 15.000 người lên đến 32.000 người[4].

2.2.2. Hoàn thiện và phát triển hệ thống giáo dục xã hội

Trong những năm gần đây, cùng với sự thay đổi nhanh chóng của cơ cấu xã hội, các giá trị quan, nhân sinh quan hành động của con người cũng thay đổi theo và trong bối cảnh đó, nhu cầu học tập của con người trong xã hội trở nên cao hơn, đa dạng hơn khiến cho vai trò của các lớp học, khóa học do các cơ sở giáo dục xã hội và Ban giáo dục địa phương tiến hành trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

Bộ Khoa học Giáo dục Nhật Bản đã tiến hành các Dự án thí điểm mà trong đó các cơ sở giáo dục xã hội như nhà văn hóa, thư viện, viện bảo tàng...  đóng vai trò chủ đạo trong việc lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá nhằm  giải quyết các vấn đề về nhu cầu học tập của người dân địa phương. Đồng thời, qua việc phổ biến rộng rãi những thành quả thu được từ các dự án thí điểm này, nâng cao vai trò của hệ thống giáo dục xã hội.

Ngoài ra, các tổ chức công cộng của địa phương một mặt đẩy mạnh cung cấp cơ hội học tập cho nhân dân như: mở các khóa học tự do, các giờ giảng mở tại các trường đại học, các trung tâm văn hóa và các cơ sở công cộng địa phương, mặt khác cán bộ làm việc tại những cơ sở này cũng không ngừng đưa ra sáng kiến nhằm cung cấp các cơ hội học tập đa dạng, đáp ứng một cách linh hoạt và sáng tạo nhu cầu học tập của người dân địa phương. Có thể nói, chưa bao giờ việc hoàn thiện và phát triển các cơ hội học tập cũng như mạng lưới dịch vụ rộng lớn phục vụ cho việc học tập được xúc tiến mạnh mẽ như hiện nay.

Một số nội dung quan trọng trong việc hoàn thiện và phát triển hệ thống giáo dục xã hội phục vụ học tập suốt đời là:

- Củng cố đội ngũ cán bộ lãnh đạo có chuyên môn tại các cơ sở giáo dục xã hội:

Về đội ngũ cán bộ lãnh đạo có chuyên môn trong lĩnh vực giáo dục xã hội hiện nay, có thể kể đến các cán bộ phụ trách các cơ sở giáo dục xã hội nằm trong thành phần Ban giáo dục địa phương, các chủ nhiệm nhà văn hóa, cán bộ thư viện (thủ thư), nghệ nhân phụ trách các cơ sở đào tạo nghề thủ công truyền thống, cán bộ trực tiếp tổ chức chỉ đạo các hoạt động giáo dục, đào tạo tại các cơ sở giáo dục xã hội và các cán bộ lãnh đạo của các tổ chức có liên quan đến giáo dục xã hội...

Ngoài các tổ chức công lập, cũng phải kể đến nguồn cán bộ làm công tác văn hóa, giáo dục tại các cơ sở tư nhân, những người cũng đã đóng góp nhiệt tình trong việc cung cấp địa điểm và cơ hội học t<

Số lượt xem : 586

Hệ thông không nhận dạng được yêu cầu của bạn. Vui lòng thông báo cho quản trị hệ thống

Chưa có bình luận nào cho bài viết này